Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012
Bài thuốc trị bệnh tiểu đường

Bài thuốc trị bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường là một trong những bệnh nan y khó điều trị nhất bởi tính chất diễn biến phức tạp mang đặc thù của căn bệnh này mà hệ lụy của nó những biến chứng hết sức nguy hiểm đe dọa đến tính mạng người bệnh. Khoa học đã chứng minh đặc biệt trong bệnh tiểu đường tuýp 2người bệnh hoàn toàn có thể quản lý được căn bệnh này và phòng tránh được các biến chứng bằng chế độ ăn uống, vận động hợp lý và thuốc điều trị. Dưới đây chúng tôi muốn giới thiệu tới bạn các bài thuốc trị bệnh tiểu đường bằng các loại thảo dược từ trong dân gian vừa an toàn hiệu quả mà không gây ra tác dụng phụ.

Các bài thuốc trị bệnh tiểu đường từ trong dân gian

Đây là những bài thuốc chữa tiểu đường theo kinh nghiệm dân gian được rất nhiều áp dụng bởi tính đơn giản dễ làm mà hiệu quả mang lại ở nhiều mức độ khác nhau. Chúng ta cùng tham khảo 2 cách dùng thuốc như sau:
Dùng thuốc độc vị
- Nhộng tằm 20 con, rửa sạch, xào ăn bằng dầu thực vật.
- Ô mai 15 g, hãm với nước sôi uống thay trà.
- Đậu đỏ để cả vỏ, sấy khô, mỗi ngày dùng 50 g nấu nước uống.
- Nấm mỡ lượng vừa đủ, nấu canh hoặc xào với dầu thực vật ăn hàng ngày.
- Bí đao tươi 100 g, rửa sạch, ép lấy nước uống hàng ngày.
- Cà rốt tươi lượng vừa đủ, rửa sạch, ép lấy nước cốt uống hằng ngày.
- Rễ cỏ tranh 50 g, rửa sạch sắc uống thường xuyên.
- Ăn lê tươi hàng ngày.
- Bí đỏ 250 g nấu canh ăn trong ngày.
- Mướp đắng sấy hoặc phơi khô, tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 15-20 g.
- Vừng đen 100 g sắc uống hàng ngày.
- Uống nước ép vòi voi hoặc măng tre tươi hằng ngày.
- Rễ hoặc lá cây ngưu bàng sắc uống thay trà.
Dùng nhiều vị
- Hạt tía tô và hạt cải củ lượng bằng nhau, sao thơm tán bột, mỗi ngày uống 9 g với nước sắc rễ cây dâu (tang bạch bì).
- Hạt dưa hấu 50 g giã nát, hòa với nước rồi lọc bỏ bã, đem nấu với 30 g gạo tẻ thành cháo ăn.
- Bột hoài sơn 2 phần, bột ý dĩ 1 phần trộn đều, mỗi ngày dùng 90 g với nước sôi ăn.
- Củ cải 5 củ, rửa sạch, thái miếng luộc lấy nước nấu với 100 g gạo tẻ thành cháo ăn hàng ngày.
- Lá hồng 30 g, đậu xanh 30 g, sắc uống.
- Hoa đậu ván trắng 30 g, mộc nhĩ đen 30 g, sấy khô, tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 3-5 g.
- Vỏ bí xanh 15 g, vỏ dưa hấu 15 g, thiên hoa phấn 12 g, sắc uống.
- Cá diếc 500 g, trà xanh 10 g, cá làm sạch, bỏ ruột rồi nhồi trà xanh vào trong bụng, hấp cách thủy, chia ăn vài lần trong ngày.
- Lá khoai lang 100 g, thiên hoa phấn 20 g, ngọc trúc 15 g, sắc uống.
- Ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng) 15 g, ngọc trúc 20 g, đường phèn 25 g, sắc mộc nhĩ và ngọc trúc lấy nước hòa đường phèn uống.

Thực đơn bài thuốc trị bệnh tiểu đường

- Bài 1: Táo đỏ 7 quả, kén tằm 7 cái, cho nước vào sắc đặc, uống làm vài lần.
- Bài 2: Cọng rau muống 60g, râu ngô 30g rửa sạch, cho cả vào nước sắc lấy nước uống.
- Bài 3: Thịt dê 250g, phổi dê 1 bộ, rửa sạch, cho nước vào nấu, uống canh.
- Bài 4: Rau cần 500g, rửa sạch, giã nát, lấy vải màn sạch vắt lấy nước, nấu sôi, uống ngày 2 lần.
- Bài 5: Tuỵ lợn 1 cái, 3 quả trứng gà , rau chân vịt 60g. Tuỵ lợn rửa sạch, thái miếng mỏng, nấu chín (không cho muối). Sau đó cho trứng gà, rau chân vịt vào ăn, ăn cả nước lẫn cái, ngày ăn 1 lần.
- Bài 6: Cà chua 20g, vỏ dưa hấu 15g, vỏ bí xanh 15g, bột qua lâu (phấn hoa) 15g, cho vào nấu nước uống.
- Bài 7: Sinh tố tổng hợp: ớt ngọt xanh 1 quả, mướp đắng 1/2 quả, dưa chuột 1 quả, rau cần vài cọng. Rửa sạch các loại rau trên, xắt đoạn. Cho rau vào máy xay, xay thành nước sinh tố. Uống ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều sẽ điều trị hiệu quả bệnh tiểu đường.
- Bài 8: Lá khoai lang 50g, bí đao 200g, hành, bột gừng mỗi thứ một ít, muối, mì chính vừa đủ. Lá khoai lang rửa sạch, ngắt bỏ cuống, thái nhỏ. Bí đao rửa sạch, gọt vỏ thái miếng nhỏ. Cho bí đao vào đảo qua dầu, thêm ít nước, tra hành, gừng, đun nhỏ lửa trong 30 phút. Cho lá khoai vào nấu chín, nêm muối, mì chính. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hạ đường huyết.
- Bài 9: Mướp đắng hầm đậu phụ: Mướp đắng 200g, đậu phụ 180g, hành, muối, xì dầu mỗi thứ một ít. Mướp đắng rửa sạch, bỏ ruột, thái lát. Cho dầu xào chín, tra muối, xì dầu, hành. Đổ nước vừa đủ, cho đậu phụ vào cùng nấu chín. Mướp đắng chứa hợp chất có tác dụng tương tự như insulin, giúp hạ đường huyết rõ rệt.
-    Ngoài ra bạn có thể dùng trà cỏ ngọt để uống hàng ngày sẽ giúp bạn cân bằng đường huyết.
Trên đây là các bài thuốc trị bệnh tiểu đường rất công hiệu và an toàn cho người bệnh. Mọi người hãy chọn bài thuốc nào phù hợp với mình nhất để áp dụng. Đối với thực đơn bài thuốc trị bệnh tiểu đường bạn có thể dùng trong bữa ăn hàng ngày cho người bệnh tiểu đường.
Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012
Nỗi lo biến chứng đái tháo đường

Nỗi lo biến chứng đái tháo đường

Phần lớn người bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) đang phải đối mặt với biến chứng mãn tính như: biến chứng mạch máu, thần kinh và nhiều biến chứng khác, để lại cho gia đình và bản thân gánh nặng về chi phí điều trị.


Vậy giai đoạn nào người bệnh Đái tháo đường gặp biến chứng?

Biến chứng cấp tính có thể gặp ở bất cứ giai đoạn nào trong quá trình phát triển của bệnh. Biến chứng mãn tính khó xác định được thời điểm bắt đầu. Với ĐTĐ type 1 các triệu chứng thường rầm rộ nên có thể phát hiện và điều trị sớm hơn. Đối với ĐTĐ type 2, do bệnh diễn biến âm thầm nên đa phần biến chứng chỉ được phát hiện tình cờ khi thăm khám hoặc khi đã ở giai đoạn muộn, lúc này việc điều trị rất khó khăn và tốn kém. Nguy cơ biến chứng ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 thực tế khó kiểm soát hơn type 1. Vì vậy với cả hai type ĐTĐ, việc phòng ngừa và điều trị sớm biến chứng không thể tách rời trong mục tiêu kiểm soát đường huyết.

Dấu hiệu nhận biết các biến chứng mãn tính như thế nào?

Biến chứng mạch máu với các biểu hiện ở mắt như nhìn mờ, giảm thị lực; ở thận triệu chứng ban đầu là phù mắt cá chân, cẳng chân hay cẳng tay. Một số bệnh lý tim mạch như đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, xơ vữa động mạch và cao huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ đều có thể là những biến chứng. Riêng biến chứng thần kinh, chiếm khoảng 50% trên tổng số bệnh nhân ĐTĐ với các dấu hiệu ban đầu như: tê bì, châm chích, bỏng rát và đau bắt đầu ở đầu ngón và lan dần lên phía trên...Một số biến chứng khác cũng có thể được phát hiện như: nhiễm trùng dai dẳng ở nhiều cơ quan khác nhau trong cơ thể (miệng, nướu răng, phổi, da, chân…). Cơ chế chung để giải thích cho các biến chứng này là do lượng đường trong máu cao làm tổn thương mạch máu, thần kinh, làm giảm khả năng miễn dịch và tăng nguy cơ nhiễm trùng ở bệnh nhân ĐTĐ.

Người bệnh cần làm gì để phòng ngừa biến chứng

Mạch máu bị tổn thương dẫn đến sự nuôi dưỡng kém hiệu quả là nguyên nhân chính gây ra biến chứng. Do vậy người bệnh cần phối hợp điều chỉnh chế độ ăn, giảm cân, chế độ tập luyện cùng với các thuốc điều trị để duy trì nồng độ đường huyết sát với ngưỡng bình thường nhằm giảm tỉ lệ của biến chứng. Giải pháp hỗ trợ điều trị từ thực phẩm chức năng như Hộ Tạng Đường là xu hướng được được nhiều người lựa chọn vì độ an toàn cao và thích hợp cho việc sử dụng lâu dài. Nhưng những sản phẩm đó cần đáp ứng được cả 2 yếu tố bảo vệ mạch máu, tế bào và ổn định đường huyết thì mới mang lại hiệu quả thực sự cho người bệnh.
Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012
Stress, khát nước, thèm ngọt là hiện tượng bệnh tiểu đường

Stress, khát nước, thèm ngọt là hiện tượng bệnh tiểu đường

Các triệu chứng lâm sàng điển hình của đái tháo đường là khát nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sút cân, mệt mỏi, có dấu hiệu tê bì chân tay và giảm thị lực...



Tuy nhiên, không hẳn có các triệu chứng trên là đã bị tiểu đường, và cũng không nên nhầm lẫn là không có các triệu chứng ấy có nghĩa không mắc bệnh.

Vì nếu không có các triệu chứng lâm sàng kể trên mà sau hai lần làm xét nghiệm, đường máu vẫn tăng trên 7mmol/l hoặc đường máu sau ăn hoặc đường máu được làm xét nghiệm bất kỳ trên 11,1mmol/l thì vẫn mắc bệnh đái tháo đường. Do đó, những người có yếu tố nguy cơ cao như béo phì, gia đình có tiền sử bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, tuổi trên 40… cần được phát hiện bệnh sớm để can thiệp kịp thời.

Khát và uống nhiều nước (trên 4l/ngày) nằm trong hội chứng uống nhiều tiểu nhiều mà bệnh đái tháo đường chỉ là một trong nhiều nguyên nhân. Vì vậy, không thể dựa vào hai triệu chứng này để khẳng định bị bệnh đái tháo đường mà phải dựa vào nhiều triệu chứng và các xét nghiệm để chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt. Bởi khát và uống nhiều nước còn do tiêu chảy, đái tháo nhạt, bệnh tâm thần, lao động mất nhiều mồ hôi hoặc tổn thương thần kinh trong não gây rối loạn điều hoà nước trong cơ thể…

Ăn quá nhiều chất ngọt cũng không có nghĩa là mắc bệnh đái tháo đường, nếu ăn nhiều chất ngọt nhưng ăn hạn chế các chất bột đường (gạo, bột mì) và duy trì chế độ hoạt động tốt thì vẫn không bị mắc bệnh đái tháo đường, còn nếu ăn quá nhiều chất ngọt kết hợp ăn nhiều chất bột đường thì nguy cơ đái tháo đường rất cao.

Đến nay người ta chưa rõ mối liên quan giữa các stress và sự xuất hiện bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên các stress ảnh hưởng trực tiếp lên người bệnh đái tháo đường thì đã được thừa nhận. Stress làm giảm khả năng tự theo dõi bệnh, làm người bệnh chán nản, ăn uống thất thường, thậm chí uống rượu để giải sầu… Những hành vi này không chỉ làm tình trạng kiểm soát đường huyết kém đi mà còn làm trầm trọng các biến chứng khác của bệnh.
Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012
Chữa thoát vị đĩa đệm bằng laser xuyên qua da

Chữa thoát vị đĩa đệm bằng laser xuyên qua da

Khi thoát vị đĩa đệm chuyển sang giai đoạn nặng hơn, phương pháp điều trị vật lý không còn hiệu quả nữa, nhiều bệnh nhân lại không muốn điều trị bằng phương pháp mổ hở hoặc nội soi vì sợ biến chứng và để lại sẹo. Vì vậy phương pháp giảm áp lực đĩa đệm bằng laser xuyên qua da là phương pháp được lựa chọn cho các vấn đề này.

Phương pháp giảm áp lực đĩa đệm bằng laser xuyên qua da

Phương pháp giảm áp lực đĩa đệm bằng laser xuyên qua da( viết tắt là PLDD ) là một thủ thuật có thể thích hợp với nhiều bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm, ngay cả đối với những người lớn tuổi và có vấn đề về sức khỏe. Đặc biệt, với những phụ nữ ngại đau đớn và sợ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ với đường rạch khi phẫu thuật vùng cột sống thì PLDD cũng là một lựa chọn tốt.

Năng lượng laser được đưa vào nhân nhầy của đĩa đệm nhờ hệ thống quang dẫn mềm và dưới sự quan sát thông qua một X-quang tăng sáng truyền hình ba chiều. Năng lượng laser sẽ làm bốc bay một phần nhân nhầy, giúp giảm áp suất nội đĩa đệm. Từ đó, khối nhân nhầy thoát vị co rút lại, giúp giảm áp suất chèn ép lên rễ thần kinh ở vị trí thoát vị.

Thông thường, việc điều trị với một tầng (1 đĩa đệm) chỉ mất khoảng 15 phút. PLDD còn giúp tránh được gây mê và một số biến chứng nặng trong mổ hở, sẹo của vết mổ cũng có thể gây xơ dính thần kinh, một rủi ro có thể gặp phải sau mổ hở.
Nhược điểm

Trong trường hợp bệnh nhân có khối thoát vị quá lớn, các vòng xơ của đĩa đệm bị đứt nhiều, đĩa đệm đã bị vỡ, phì đại dây chằng vàng, đứt dây chằng dọc sau, dọc trước, trượt thân đốt sống trên độ 1, thoái hóa cột sống nặng, xẹp đĩa đệm trên 50% thì điều trị giảm áp bằng laser qua da không còn là phương pháp hiệu quả.

Nhiều người bệnh e ngại laser và tia X từ máy chiếu X-quang khi làm PLDD gây hại cho cơ thể. Nếu laser được sử dụng đúng cách và có bảo hiểm tốt cho đôi mắt thì được coi là vô hại.
Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012
Nguyên nhân bệnh nhân đái tháo đường tăng?

Nguyên nhân bệnh nhân đái tháo đường tăng?

Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ gia tăng đái tháo đường cao trên thế giới. Sau 10 năm, tỉ lệ mắc bệnh này tại Việt Nam đã tăng gấp đôi và có rất nhiều yếu tố tác động đến tỉ lệ này.


Tại Hội thảo quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường diễn ra chiều 23/5, tại Hà Nội, Giáo sư Thái Hồng Quang, Phó Chủ tịch Hội Nội tiết Việt Nam cho biết: kết quả điều tra mới nhất do Bệnh viện Nội tiết Trung ương công bố cho thấy, số bệnh nhân mắc đái tháo đường tại Việt Nam đang tăng vọt.

Kết quả nghiên cứu với hơn 11.000 người tuổi 30- 69 tại 6 vùng sinh thái gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho thấy, khoảng gần 6% dân số Việt Nam bị tiểu đường, Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7% năm 2002 lên gần 13% năm 2012.

Theo GS Quang, có nhiều yếu tố tác động dẫn đến gia tăng nhanh tỉ lệ bệnh nhân mắc đái tháo đường. “Trước đây vấn đề sàng lọc, tầm soát bệnh đái tháo đường chưa được quan tâm. Giờ chúng ta quan tâm hơn đến vấn đề này và hệ thống y tế trong toàn quốc, tuyên truyền trên truyền thông nên người dân đã chủ động đi khám nhiều hơn. Hơn nữa, hiện nay, ngưỡng để chẩn đoán bệnh đái tháo đường thế giới hạ thấp xuống rất nhiều. Trước kia, đường máu bình thường là dưới 7,8mmol, nhưng hiện nay, đường máu bình thường là 5,6 và chẩn đoán bệnh đái tháo đường là 7mmol chứ không phải là 7,8. Tức là ngưỡng chẩn đoán giảm đi. Khi ngưỡng giảm như vậy, số ca chẩn đoán sẽ tăng lên”, GS Quang nói.

Bên cạnh đó, xu hướng hiện đại hóa, rất nhiều người dân các vùng nông thôn ra thành phố, các nhà máy làm việc, họ phải sống một cuộc sống công nghiệp hóa, ăn thức ăn nhanh, trong đó có nhiều yếu tố béo, rất dễ gây nên đái tháo đường.

“Béo phì liên quan mật thiết với đái tháo đường. Trong khi đó, hiện nay, lối sống thay đổi, vận động ít đi (trước đây ta đi bộ, đi xe đạp là những phương tiện phải vận động, giờ đi xe máy, đi ô tô làm vận động của con người cũng giảm đi), ngồi xem ti vi nhiều, ăn thức ăn nhiều chất béo… là tác nhân gây gia tăng bệnh đái tháo đường”, GS Quan nhận định.

Trước đây, béo thì liên quan đến đái tháo đường tuýp 2, thường gặp ở người trên 40 tuổi, người già. Bây giờ trẻ em đã có nhiều trẻ bị tiểu đường tuýp 2 vì béo phì.

GS Quang đánh giá, tỷ lệ bệnh nhân tiểu đường đã ở mức báo động. Bởi năm 2002, tỷ lệ bệnh nhân tiểu đường chỉ chiếm khoảng 2,7% dân số. Đến nay, sau đúng 10 năm, tỷ lệ bệnh nhân mắc tiểu đường đã tăng gấp đôi. Trong khi đó, theo xu hướng chung, tỉ lệ này cần phải mất 15 năm mới tăng lên gấp đôi.

Đáng nói, số người mắc tiểu đường có xu hướng tăng nhanh nhưng số người phát hiện bệnh lại rất thấp. Theo kết quả nghiên cứu này, tỷ lệ người bệnh tiểu đường trong cộng đồng không được phát hiện ở nước ta là gần 64%. Kiến thức chung về bệnh của người dân cũng rất thiếu. Gần 76% số người được hỏi có kiến thức rất thấp về chẩn đoán và biến chứng của bệnh, chỉ có 0,5% có kiến thức tốt.

Trước thực trạng đó, Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã triển khai Chiến lược quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường giai đoạn 2013-2020. Trong đó từ nay đến 2016 tăng cường phát hiện sớm, quản lý các đối tượng nguy cơ cao, xây dựng các biện pháp can thiệp kịp thời làm giảm số người mắc bệnh.
Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012
Các phương pháp điều trị bệnh đau lưng

Các phương pháp điều trị bệnh đau lưng

Bệnh đau lưng do nhiều nguyên nhân gây ra, vì vậy cần phải tìm hiểu kĩ đâu là nguyên nhân gây bệnh mới có biện pháp điều trị phù hợp. Trừ các trường hợp đau lưng đặc biệt bạn có thể áp dụng một số biện pháp sau đây để  điều trị bệnh đau lưng.


Các biện pháp điều trị

Phương pháp vật lý trị liệu : rất có hiệu quả trong chứng đau lưng, chẳng hạn như xoa bóp, nắn khớp, chiếu tia hồng ngoại, châm tê tại chỗ, chườm nóng (ngải cứu + muối) … Việc áp dụng các phương pháp trên cần có sự hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa. Ngoài ra, có thể giảm đau lưng bằng cách dùng áo nịt và đai lưng.

Có thể giảm đau bằng cách làm cho người nóng lên: Dùng các loại dầu hay thuốc dạng kem bôi ngoài da. Khi cần, có thể sử dụng  các  dạng thuốc giảm đau kháng viêm hoặc thuốc chống co cơ với sự hướng dẫn của bác sĩ.

Phẫu thuật đĩa đệm: là phương pháp chữa bệnh triệt để và cuối cùng, được áp dụng khi các phương pháp trên không hiệu quả.

Đau lưng do lao, do nhiễm trùng đường tiết niệu, đường mật: Cần phải chữa nguyên nhân. Đau lưng thường, kể cả đau lưng ở phụ nữ có thai có thể chữa bằng cách sửa lại thói quen đứng, ngồi thẳng lưng hoặc nằm trên phản, giường cứng, không nằm đệm hoặc võng, thường xuyên tập luyện hoặc dùng châm cứu, bấm huyệt.

Đau lưng do giãn dây chằng hoặc nghi trượt đĩa đệm : Để người bệnh nằm ngửa, bất động trong vài ngày, nên kê đệm ở chỗ khoeo chân và lưng, nên dùng các thuốc giảm đau uống kèm theo đắp khăn nóng.

Người bị đau thắt lưng : Nên nằm ngửa, người hơi ưỡn, hai gối co. Khi bị đau đột ngột, dữ dội, nên nghỉ ngơi tuyệt đối. Nếu đau mạn tính, dai dẳng, nên hạn chế làm việc nặng, nghỉ ngơi nhiều hơn. Không nên hoạt động sớm khi cơn đau mới thuyên giảm.
Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012
Biến chứng, gánh nặng của bệnh đái tháo đường

Biến chứng, gánh nặng của bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường là một nhóm bệnh lý chuyển hoá với đặc trưng tăng glucose máu mạn tính, là nguyên nhân gây ra các biến chứng tại các cơ quan trong cơ thể ở mức độ khác nhau như tổn thương phá huỷ hoặc suy yếu các mô, rối loạn chức năng các cơ quan đặc biệt như tim mạch, mắt, thận, thần kinh,...


Đái tháo đường là một trong ba bệnh (ung thư, tim mạch, đái tháo đường) phát triển nhanh nhất. Theo công bố của WHO 1985 có 30 triệu người trên thế giới bị đái tháo đường, thì năm 1994 là 98,9 triệu người. Theo ước tính của Viện nghiên cứu đái tháo đường quốc tế năm 2010 có khoảng 215,6 triệu người bị đái tháo đường. Ở Việt Nam theo điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường của PGS.TS Tạ Văn Bình bệnh viện Nội tiết năm 2001 tại 4 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh) ở tuổi 30-64 cho thấy tỷ lệ đái tháo đường là 4,0%.

Gánh nặng về y tế và xã hội do bệnh ĐTĐ gây ra cho cộng đồng là một vấn đề rất được quan tâm. Mặc dù ở nước ta chưa có các thống kê đầy đủ, song theo thống kê của Bộ Y tế Mỹ năm 2000, có trên 3,2 triệu người nhập viện liên quan tới bệnh ĐTĐ. Lý do chính khiến các bệnh nhân ĐTĐ phải nhập viện điều trị đứng hàng đầu là do các bệnh lý của hệ tim mạch (40% các nhập viện), sau đó là bệnh lý hệ hô hấp và nhiễm khuẩn (30%).

ĐTĐ cũng là một bệnh lý mạn tính hàng đầu có các biến chứng nguy hiểm cho người bị bệnh: nguyên nhân chính dẫn tới mù và suy thận giai đoạn cuối cần phải được lọc máu hay ghép thận; là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây cắt cụt chi do tắc mạch; trên 70% bệnh nhân người lớn bị ĐTĐ có tăng huyết áp và tỷ lệ bị bệnh tim, tai biến mạch não ở người ĐTĐ được ước tính cao gấp 4 - 6 lần so với người cùng độ tuổi song không bị bệnh, 70% tử vong ở BN ĐTĐ liên quan tới biến chứng tim mạch. Theo thống kê của WHO số BN tử vong do ĐTĐ tương đương với số BN tử vong do bệnh AIDS.

Chính vì vậy Bệnh đái tháo đường đang được cả thế giới nhìn nhận như là một đại dịch của thế kỷ 21 do phạm vi ảnh hưởng mang tính toàn cầu và mức độ ảnh hưởng sâu sắc của nó đối với sức khoẻ, kinh tế và an ninh xã hội.
Copyright © 2014 All Right Reserved
Designed by