Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013
Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không?

Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không?

Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không ? Tiểu đường thai kỳ tuy không gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe người mẹ nhưng nếu thai phụ không kiểm soát tốt đường huyết của mình thì rất khó tránh khỏi gặp phải các biến chứng thai sản nguy hiểm ảnh hưởng đến sự an toàn cho cả mẹ và bé.

Tiểu đường thai kỳ là gì ?

Bệnh tiểu đường thai kỳ là một loại bệnh tiểu đường mà chỉ xảy ra trong thai kỳ. Cũng giống như các hình thức khác của bệnh tiểu đường, bệnh tiểu đường thai kỳ ảnh hưởng đến cách cơ thể sử dụng đường (glucose), nguồn nhiên liệu chính của cơ thể. Bệnh tiểu đường thai kỳ có thể gây ra mức đường huyết cao mà không có khả năng gây ra vấn đề cho bản thân, nhưng có thể đe dọa sức khỏe của thai nhi.

Triệu chứng tiểu đường thai kỳ

Đối với hầu hết phụ nữ, bệnh tiểu đường thai kỳ không gây ra dấu hiệu hoặc triệu chứng đáng chú ý. Hiếm khi bệnh tiểu đường thai kỳ có thể gây ra khát nước quá mức hoặc đi tiểu tăng lên.
Bệnh tiểu đường thai kỳ thường không có triệu chứng. Đó là lí do mà hầu hết phụ nữ mang thai nên thực hiện xét nghiệm đường huyết vào tuần thai thứ 24-28.
Tuy nhiên, nếu bạn đang có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường cao hoặc đang có những dấu hiệu của bệnh (chẳng hạn như có đường trong nước tiểu), bác sĩ sẽ đề nghị bạn thực hiện xét nghiệm này trong lần khám thai đầu tiên và lặp lại xét nghiệm sau đó vào tuần thứ 24-28 nếu kết quả lần đầu tiên là âm tính.
Cũng phải nói thêm rằng, nếu bạn có kết quả xét nghiệm glucose huyết dương tính, chưa hẳn là bạn đã bị tiểu đường thai kỳ. Điều này chỉ có nghĩa rằng bạn sẽ cần thực hiện các xét nghiệm kĩ hơn (thử nghiệm dung nạp đường) để khẳng định chắc chắn.

Yếu tố nguy cơ mắc tiểu đường thai kỳ

Những phụ nữ có nguy cơ cao nhất là những người đang mắc bệnh tiểu đường hoặc đã từng mắc tiểu đường thai kỳ trong lần mang thai trước đó, hay những người sinh một hoặc nhiều con có trọng lượng “đáng nể” khi mới chào đời. Những phụ nữ thừa cân và những phụ nữ từng sảy thai hay tiền sản giật cũng có nguy cơ cao.
Ngoài ra, những nhóm phụ nữ sau cũng có nguy cơ:
- Những bà mẹ lớn tuổi (có khuynh hướng phát triển bệnh đái tháo đường do tuổi tác).
- Những phụ nữ mắc bệnh huyết áp cao.
- Những phụ nữ mà từng có trọng lượng quá khổ sau sinh (nặng hơn 4kg).
- Những phụ nữ mà có cha/mẹ hay anh/chị em ruột mà từng phải tiêm insulin bổ sung.

Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không – Các biến chứng tiểu đường thai kỳ

Hầu hết phụ nữ bị bệnh tiểu đường thai kỳ mang đứa con khỏe mạnh. Tuy nhiên, thai bệnh tiểu đường mà không quản lý cẩn thận có thể dẫn đến không kiểm soát được lượng đường trong máu và các vấn đề gây ra cho bản thân và con.
Các biến chứng có thể ảnh hưởng đến em bé
Nếu  bị tiểu đường thai kỳ, em bé  có thể có nguy cơ:
Vượt quá tăng trưởng. Thêm đường sẽ đi qua nhau thai, gây nên tuyến tụy của bé sản xuất thêm insulin. Điều này có thể gây ra em bé phát triển quá lớn (macrosomia). Trẻ lớn có nhiều khả năng trở thành khó sinh, duy trì thương tích sinh.
Lượng đường huyết thấp (hạ đường huyết). Đôi khi trẻ sơ sinh của bà mẹ bị tiểu đường thai kỳ phát triển đường trong máu thấp (hạ đường huyết) ngay sau khi sinh vì tự sản xuất insulin của họ là cao. Nặng của vấn đề này có thể gây co giật ở trẻ. Cho ăn và đôi khi là một giải pháp đường tĩnh mạch có thể trở lại mức độ đường máu của con bình thường.
Hội chứng suy hô hấp. Một điều kiện mà làm cho hơi thở khó khăn là có thể. Em bé có mẹ bị tiểu đường thai kỳ có vấn đề về hô hấp nhiều hơn những phụ nữ không có vấn đề, ngay cả ở cùng tuổi thai. Những đứa trẻ có hội chứng suy hô hấp có thể cần giúp thở cho đến khi phổi trở nên mạnh mẽ hơn.
Vàng da. Điều này đổi màu vàng của da và lòng trắng của mắt có thể xảy ra nếu gan của bé chưa đủ trưởng thành để phá vỡ một chất gọi là bilirubin, thường các hình thức khi cơ thể tái chế các tế bào máu đỏ cũ hoặc bị hư hỏng. Mặc dù vàng da thường không phải là nguyên nhân cho sự quan tâm, theo dõi cẩn thận là quan trọng.
Tiểu đường loại 2 sau này. Em bé của bà mẹ bị bệnh tiểu đường thai kỳ có nguy cơ cao của bệnh béo phì phát triển và loại 2 bệnh tiểu đường sau này.
Vấn đề phát triển. Nếu bị tiểu đường thai kỳ, con có thể có nguy cơ gia tăng của các vấn đề với phát triển kỹ năng vận động, như đi bộ, nhảy hoặc các hoạt động khác đòi hỏi phải có sự cân bằng và phối hợp. Một nguy cơ gia tăng của các vấn đề quan tâm hoặc các rối loạn tăng động cũng là một mối quan tâm.
Hiếm khi, kết quả không được điều trị bệnh tiểu đường trong cái chết của bé trước hoặc ngay sau khi sinh.
Các biến chứng có thể ảnh hưởng đến bà mẹ
Bệnh tiểu đường thai kỳ cũng có thể làm tăng nguy cơ cá nhân:
Tiền sản giật. Bệnh tiểu đường thai kỳ làm tăng nguy cơ tiền sản giật, một điều kiện đặc trưng bởi huyết áp cao và protein dư thừa trong nước tiểu sau tuần thứ 20 của thai kỳ. Nếu không điều trị, tiền sản giật có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng hoặc thậm chí đe dọa tính mạng cho cả mẹ và bé.
Nhiễm trùng đường tiểu. Phụ nữ có trải nghiệm bệnh tiểu đường thai kỳ, hai lần số lượng nhiễm trùng đường tiểu trong khi mang thai hơn so với phụ nữ khác mang thai. Điều này có thể do đường dư thừa trong nước tiểu.
Tương lai bệnh tiểu đường. Nếu bị tiểu đường thai kỳ, có nhiều khả năng có nó một lần nữa với một thai kỳ trong tương lai. Cũng có nhiều khả năng phát triển bệnh tiểu đường, thường là tiểu đường loại 2 khi  già đi. Tuy nhiên, việc lựa chọn lối sống lành mạnh như ăn thức ăn lành mạnh và tập thể dục có thể giúp giảm nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2 trong tương lai. Trong số những phụ nữ có tiền sử bệnh tiểu đường thai kỳ người đã đạt đến trọng lượng cơ thể lý tưởng của mình sau khi sinh, ít hơn 25 phần trăm phát triển tiểu đường loại 2.

Phải làm gì khi bị tiểu đường thai kỳ.

Bệnh tiểu đường thai kỳ thực sự nguy hiểm ảnh hưởng đến cả mẹ và bé nếu như người mẹ không biết kiểm soát được tốt đường huyết của mình. Nếu như thai phụ bị mắc tiểu đường thai kỳ thì cần đến các cơ sở y tế để được thăm khám theo dõi trong suốt quá trình điều trị. Ngoài dùng thuốc điều trị thai phụ cần có một chế độ dinh dưỡng và vận động hợp lý để tránh các nguy cơ gặp phải biến chứng.
Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013
Các phương pháp chữa bệnh vôi hóa cột sống

Các phương pháp chữa bệnh vôi hóa cột sống

Bệnh vôi hóa cột sống là một bệnh thuộc nhóm bệnh thoái hóa cột sống . Đây là tình trạng lắng tụ canxi trên các dây chằng bám vào thân đốt sống hay các mấu gai, mấu ngang của cột sống làm cột sống có gai. Nguyên nhân sâu xa của bệnh là do thoái hóa khớp gây ra. Điều trị bệnh bằng cách vận động cơ thể tránh các chấn thương lên xương khớp và chế độ dinh dưỡng đầy đủ.

Các phương pháp điều trị

Đây là quá trình tự nhiên lão hóa theo thời gian, có thể kèm theo các yếu tố thúc đẩy như quá trình viêm do viêm nhiễm trùng, viêm do các yếu tố khác như bệnh tự miễn hay viêm do các cơ và dây chằng vùng cột sống bị quá tải do việc nặng hay do tư thế.bệnh
Điều trị cơn đau lưng là sự phối hợp của nhiều chuyên khoa như chỉnh hình, vật lý trị liệu, khoa giảm đau và với những cơn đau mãn tính kéo dài quá lâu nhưng đôi khi cần được tư vấn về tâm lý.

Phương pháp nội khoa:

Tức là uống thuốc và phối hợp với các chuyên khoa như trên luôn là phương pháp được chọn lựa đầu tiên. Tuy nhiên để có một phương pháp điều trị chính xác thì phải có chẩn đoán chính xác.
Nếu gai không gây đau, không cần điều trị. Bệnh nhân tìm tới bác sĩ khi các cơn đau và các khó khăn khi cử động khiến cho họ phải giới hạn các hoạt động bình thường và ảnh hưởng tới nếp sống. Khi gai gây đau thì sự điều trị tập trung ở nguyên nhân gây ra gai, dấu hiệu bệnh hoặc sự hiện diện của gai.
Với nguyên nhân, việc giảm cân để giảm sức nặng lên xương khớp là điều cần làm.
Điều trị dấu hiệu đau gồm có nghỉ ngơi khi sưng viêm, chườm nước đá, uống thuốc chống viêm không có steroid như paracetamol, ibuprofen.

Dùng thuốc:

Trong trường hợp đau nhiều, bác sĩ có thể chích thuốc steroid tại chỗ để giảm viêm và đau của cơ bắp. Thuốc viên steroid là thuốc chống viêm rất mạnh và rất công hiệu để trị viêm. Tuy nhiên, thuốc có nhiều tác dụng không muốn nếu dùng không đúng cách và không có chỉ định của bác sĩ.

Phẫu thuật:

Gai cột sống có thể được cắt bỏ với vi phẫu thuật rất chính xác.Nhưng sau khi cắt, gai có thể mọc trở lại. Cắt bỏ chỉ được chỉ định khi gai chèn ép vào hệ thần kinh, gây ra các dấu hiệu như tê chân tay, rối loạn đại tiểu tiện, đau lan tới tứ chi và ảnh hưởng xấu tới sinh hoạt thường nhật.

Châm cứu:

Châm cứu có thể làm giảm đau một phần nào ở phần mềm nhưng không có tác dụng vào tình trạng viêm sưng cũng như khi gai tác động lên rễ dây thần kinh não tủy. Vật lý trị liệu, thoa bóp, luyện tập xương khớp, thực hành yoga cũng giúp giảm ảnh hưởng của gai.
Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013
Điều trị bệnh thoái hóa cột sống lưng

Điều trị bệnh thoái hóa cột sống lưng

Điều trị bệnh thoái hóa cột sống lưng hiệu quả luôn là điều mong muốn của tất cả những ai không may mắc phải căn bệnh này. Bài viết hôm nay sẽ giúp các bạn thực hiện điều mong ước đó. 

Nguyên nhân, biểu hiện của bệnh thoái hóa cột sống lưng:

Đau lưng là biểu hiện của khá nhiều các chứng bệnh khác nhau trong cơ thể con người. Nhưng nguyên nhân rõ rệt nhất, phổ biến nhất gây đau lưng là thoái hoá cột sống.


Điều trị bệnh thoái hóa cột sống lưng

Cột sống là khung đỡ của toàn bộ cơ thể. Theo năm tháng, do ảnh hưởng từ môi trường, chế độ ăn uống, tư thế vận động, sinh hoạt, luyện tập và chịu sức nặng cơ thể mà bị yếu đi, lão hoá và sức nâng đỡ kém. Bên cạnh đó, những chấn thương do tai nạn, mang vác nặng,… làm tăng nguy cơ bị thoái hóa cột sống.

Nguyên nhân gây bệnh:

- Làm việc, lao động nặng quá sớm và quá sức. Ví dụ như mang vác, gồng gánh nặng từ lúc 12, 13 tuổi, khi mà khung xương còn đang trong giai đoạn phát triển, chưa định hình, hoàn thiện.
- Điều kiện sống khó khăn, ăn uống không đầy đủ.
- Thường xuyên mang, vác, đẩy, kéo các vật nặng không đúng tư thế.
- Trọng lượng quá mức cho phép khiến cột sống luôn phải gắng đỡ cơ thể.
- Ngồi quá nhiều hoặc luôn luôn làm việc ở một tư thế ít thay đổi.
-  Nguyên nhân do tuổi tác: thông thường, bệnh xuất hiện ở người có tuổi từ 35, 40 trở lên.

Biểu hiện của bệnh thoái hóa cột sống lưng:
- Bệnh thoái hoá đốt sống lưng có những triệu chứng đặc trưng là đau thắt lưng, có thể kèm đau thần kinh tọa một hoặc hai bên,... gây hạn chế vận động.
- Biểu hiện rõ rệt nhất là những cơn đau lưng xuất hiện thường xuyên, cảm giác khó chịu, bức bối trong cơ thể, dáng đi không bình thường, vẹo vọ hoặc lưng còng xuống...


Điều trị bệnh thoái hóa cột sống lưng

- Đau lưng do thoái hoá cột sống lại thường âm ỉ, rả rích ngày này qua tháng khác. Cảm giác khó chịu kèm theo khiến bạn mất ăn, mất ngủ, gầy rộc đi, sức làm việc giảm sút và ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của cả mọi người xung quanh.
- Đôi khi có những cơn đau cấp tính khiến bạn cảm thấy nhói buốt, đau cả sang những vùng khác như vai, thần kinh toạ, đau hông và đùi đến mức không thể đi lại lâu được. 

Điều trị bệnh thoái hóa cột sống lưng:

1. Nghỉ ngơi: nếu bị đau lưng, bạn nên lập tức nằm nghỉ, thư giãn. Nhưng cũng không được nằm quá lâu khiến máu khó lưu thông, tăng cảm giác mệt mỏi. Chỉ cần cảm thấy đỡ đau là bạn đã phải đi lại đôi chút.

2. Chườm nóng và xoa bóp: đây được coi là biện pháp hữu hiệu tức thời. Tuy nhiên, có một sai lầm lớn là khi bị đau lưng, ta thường bóp dầu nóng, mật gấu và rượu. Làm như vậy sẽ khiến vùng bị đau có phản ứng co cơ, khiến cơn đau càng trầm trọng hơn.

3. Bơi lội: Theo các bác sĩ thì bơi lội chính là môn thể thao thích hợp nhất để chữa đau lưng, đặc biệt với các cơn đau cấp thì việc bơi trong bể nước ấm sẽ rất có hiệu quả.

4. Cẩn thận nếu đã bị thoái hóa cột sống lưng: nếu bạn đã từng bị đau lưng do thoái hoá cột sống một lần thì nên giữ gìn, không để tái phát. Vì nếu những cơn đau lặp đi lặp lại sẽ càng ngày càng nặng hơn. Đến một lúc nào đó, bạn chỉ cần đi, đứng, sinh hoạt trong tư thế hơi khác thường là đã bị đau lưng buốt nhói dữ dội.

5. Cần ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và phải kiêng rượu, bia.

Trên đây là những cách điều trị bệnh thoái hóa cột sống lưng mà bạn có thể lưu tâm. Chúc các bạn mạnh khỏe!
Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013
Biểu hiện bệnh tiểu đường

Biểu hiện bệnh tiểu đường

Biểu hiện bệnh tiểu đường là cơ thể không thể xử lý đường một cách bình thường. Câu hỏi đặt ra là “Liệu có thể chữa được bệnh tiểu đường hay không?”. Khi chúng ta ăn hoặc uống, tuyến tụy tạo ra một loại hóc-môn gọi là insulin. Insulin được giải phóng vào máu và giúp điều chỉnh lượng đường trong máu. Tiểu đường là căn bệnh trong đó quá trình này không hoạt động một cách phù hợp.



Nguyên nhân bệnh tiểu đường
• Không có insulin được sản sinh, thông thường được gọi là tiểu đường tuýp 1 và yêu cầu bệnh nhân phải sử dụng tiêm insulin.
• Insulin được tạo ra nhưng cơ thể trở nên kháng insulin khiến cho insulin không còn hiệu quả. Hiện tượng này thường được gọi là tiểu đường tuýp 2 và đang dần trở nên ngày càng phổ biến.
Vấn đề là ở chỗ mặc dù tiểu đường không liên tục đe dọa cuộc sống nhưng những ảnh hưởng lâu dài của nồng độ đường huyết cao có thể gây tổn hại cho sức khỏe của người bệnh. Tiểu đường nếu như không được kiểm soát và nồng độ đường huyết cao trong thời gian dài có thể gây ra các vấn đề cho các bộ phận trên cơ thể như thận, mắt, dây thần kinh và tim. Điều này nghe có vẻ rất khắc nghiệt nhưng kiểm soát đường huyết bằng sự kết hợp giữa bài thuốc gia truyền, thủ tục chăm sóc sức khỏe thay thế, chế độ dinh dưỡng và tập luyện sẽ mang lại những hiệu quả bất ngờ.
Cách đơn giản nhất để xem bạn có bị tiểu đường hay không là nhờ bác sĩ kiểm tra đường huyết. Một mẫu máu nhỏ lấy bằng cách trích từ ngón tay được sử dụng để xét nghiệm. Nồng độ đường huyết bình thường là khoảng từ 72 đến 126 mg/dl. Bệnh tiểu đường được chẩn đoán khi cơ thể không có khả năng giữ cho nồng độ đường huyết trong giới hạn này.
Một số người có thể bị tiểu đường trong vài tháng hoặc thậm chí vài năm mà không nhận ra rằng họ đã mắc phải căn bệnh. Chẩn đoán bệnh tiểu đường có thể xuất hiện đột ngột trong quá trình kiểm tra định kỳ nhưng thông thường nó xảy ra sau khi bệnh nhân mắc phải các triệu chứng của căn bệnh.

Sau đây là một số biểu hiện của bệnh tiểu đường:

• Không có triệu chứng. Bạn không hề nghe nhầm. Rất nhiều người không gặp phải sự khác biệt nào trong cảm giác và vô cùng kinh ngạc khi họ biết rằng mình đã bị tiểu đường. Dù bạn có cảm thấy khỏe mạnh hay không đều phải thực hiện kiểm tra chẩn đoán.
• Liên tục khát nước. Bạn có thể uống nước và uống nước sau đó lại uống nước nhưng vẫn cảm thấy khát. Vấn đề càng trở nên tồi tệ hơn trước khi tiểu đường được chẩn đoán nếu như bệnh nhân uống quá nhiều nước ngọt. Nước ngọt làm cho nồng độ đường huyết càng tăng thêm và dẫn tới khát nước vô độ.
• Đi tiểu quá nhiều. Bệnh nhân cần phải đi tiểu thường xuyên và với lượng lớn mỗi lần. Bị thức giấc trong khi đang ngủ say khoảng từ 2 đến 3 lần mỗi đêm là hiện tượng rất phổ biến. Điều này có thể gây ra khó chịu cho rất nhiều người. Nồng độ đường huyết cao giải phóng vào trong nước tiểu. Điều này dẫn tới sự mất nước của cơ thể và khiến cho bệnh nhân luôn cảm thấy khát.
• Sụt cân. Nhiên liệu chính của cơ thể là glucose. Bệnh nhân tiểu đường không thể sử dụng glucose một cách thích hợp nên nó phải phóng vào trong nước tiểu và đi ra khỏi cơ thể. Thiếu nhiên liệu đồng nghĩa với việc các tế bào trong cơ thể không thể sản sinh ra năng lượng. Kết quả là bị sụt cân.
Các triệu chứng khác bao gồm táo bón, thiếu sức sống, ngứa ran hoặc rân rân như kiến bò ở bàn tay và bàn chân, mờ mắt và nhiễm trùng.

Liệu có thể chữa được bệnh tiểu đường hay không?

Với phác đồ điều trị khoa học đã được kiểm chứng bằng thực tế điều trị. Nhà thuốc nam An Dược tự hào đã điều trị căn bệnh này thực sự hiệu quả:

Phác đồ điều trị bệnh tiểu đường:

1. Bệnh nhân tuân thủ nghiêm ngặt chế độ dinh dưỡng theo thực đơn mà nhà thuốc đưa ra. (Thời gian thực hiện từ 1 đến 2 tháng).
2. Bệnh nhân tập những bài tập mà nhà thuốc hướng dẫn hàng ngày để đạt hiệu quả điều trị. (Thời gian thực hiện từ 1 đến 2 tháng).
3. Sử dụng thang thuốc nam (Được hướng dẫn cụ thể từng trường hợp). Bài thuốc nam giúp cho bệnh nhân ổn định đường huyết để ngăn ngừa những biến chứng, đồng thời giúp đào thải độc tố trong tuyến tụy, cung cấp những dưỡng chất bổ sung cho tuyến tụy giúp tuyến tụy được hồi phục và hoạt động trở lại bình thường.
Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013
Triệu chứng đái tháo đường

Triệu chứng đái tháo đường

Đái tháo đường hay còn gọi là bệnh tiểu đường là một dạng bệnh liên quan đến nội tiết do rối loạn chuyển hóa cacbonhydrat khi tụy sản xuất thiếu insulin hoặc cơ thể giảm tác động bởi insulin. Đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Chính vì vậy cần phải phát hiện sớm ra bệnh đái tháo đường để có hướng điều trị tốt hơn giúp phòng ngừa biến chứng. Dưới đây là các triệu chứng đái tháo đường thường thấy ở cả 2 loại đái tháo đường type 1 và type 2.

Cảm giác mệt mỏi, thiếu tập chung trong công việc là một trong các triệu chứng đái tháo đường

Các triệu chứng của bệnh đái tháo đường


1. Triệu chứng đái tháo đường type 1

- Biểu hiện lâm sàng xuất hiện  rầm rộ trong đái tháo đường týp 1. Bệnh nhân thường đột ngột có các triệu chứng đái nhiều, khát nước, uống nhiều và gày sút rất nhanh và có thể hôn mê. Ở tiểu đường type 1, các triệu chứng có xu hướng phát triển nhanh trong vòng hai tuần, và mức độ nghiêm trọng hơn.
- Ngoài ra Ở tiểu đường tuýp 1, các triệu chứng ít gặp hơn là: Chuột rút, Táo bón, Nhìn mờ và Nhiễm trùng da tái diễn.

2. Triệu chứng đái tháo đường type 2

- Ở đái tháo đường type 2, các triệu chứng phát triển từ từ và thường nhẹ hơn. Các triệu chứng của bệnh đái tháo đường type 2: Khát không ngừng, Đi tiểu thường xuyên, đặc biệt ban đêm, Mệt mỏi, uể oải, Giảm cân, Ngứa bộ phận sinh dục hoặc bị nấm âm đạo tái diễn.
- Các triệu chứng đái tháo type 2 có thể không được nhận ra trong nhiều năm liền, chỉ tới khi có biến chứng, như loét chân hoặc nhìn mờ thì bệnh mới được chẩn đoán.

Phải làm gì khi thấy các triệu chứng của bệnh đái tháo đường

Với loại đái tháo đường type 1: cần đến bệnh viện xét nghiệm đường máu khi có các triệu chứng đái nhiều, uống nhiều, gày sút cân nhanh sẽ chẩn đoán được bệnh.
Với người đái tháo đường type 2: không nên chờ có triệu chứng mới đi làm xét nghiệm vì như vậy thường là muộn. Nên làm xét nghiệm một cách định kỳ 1-3 năm/lần mới giúp chẩn đoán bệnh ĐTĐ sớm. ĐTĐ không phải là bệnh ‘đái ra đường’ do vậy càng không nên nhờ vào đội ngũ ‘ruồi và kiến’ như trong thời kỳ lac hậu trước đây.
Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013
Đau cột sống - Nguyên nhân và cách chữa trị

Đau cột sống - Nguyên nhân và cách chữa trị

Bệnh đau cột sống (đau lưng) là một bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi. Có đến 80 % số người mắc bệnh đau cột sống là nhân viên văn phòng, lái xe, thợ may…những người thường xuyên phải ngồi một chỗ hoặc ít vận động. Đau nhói ở cột sống có thể phòng ngừa được nếu bạn có chế độ ăn uống, học tập và làm việc hợp lý.

Nguyên nhân dẫn tới bệnh đau cột sống


Đau cột sống - đau lưng có rất nhiều nguyên nhân
1. Đau cột sống do căng cơ, bong gân cột sống, và co thắt.
Nguyên nhân phổ biến nhất của chứng đau cột sống lưng là do tổn thương của cơ lưng ( chúng căng cơ ) hay dây chằng (chứng bong gân ). Cả hai chứng bệnh này có thể xẩy ra vì nhiểu lý do như nhấc vật nặng lên không đúng cách, tập tạ quá sức và tư thế vận động sai lệch. Chẳng hạn như khi bạn xoay mình ở vùng eo, phần dưới lưng là điểm quay nên dể bị căng cơ nhất (xem hình vẽ)
Đôi khi bị căng cơ hay bong gân người ta cảm thấy đau ngay, nhưng có những trường hợp khác thì chỉ thấy đau và lưng cứng đơ về sau.Một cơ bị tổn thương có thể “thắt lại” gây ra chứng co thắt nhằm giữ cho vùng bị tổn thương bất động giúp tránh bệnh trở thành nặng hơn
2- Bệnh Đau cột sống do mắc các bệnh viêm xương-khớp (osteoarthritis)
Đau cột sống mãn tính cũng có thể liên quan đến các bệnh xương khớp như viêm khớp, thoái hóa cột sống thắt lưng, bệnh gai cột sống, thoát vị của các đĩa liên hợp sẽ làm mất chất đệm giữa các đốt sống làm cho các đốt sống này dồn ép bào nhau khiến toàn phần lưng, cột sống bị đơ cứng, đau nhức
3- Đau cột sống do đĩa liên hợp thoát vị (thoát vị đĩa đệm)
Khi ta hoạt động quá sức, hay do tuổi già sẽ làm cho các đĩa đệm bị bào mòn, thoát khỏi vị trí gây trấn thương ảnh hưởng đến cột sống
Khi đĩa đệm thoát vị cấn vào một trong 50 dây thần kinh từ  dây cột sống chạy ra  thì bênh nhân sẽ thấy gây ra đau cột sống (đau lưng) . Dây thần kinh tọa (sciatic nerve) chạy từ dây cột sống xuống  tới chân là dễ bị ãnh hưởng nhất. Khi dây thần kinh này bị đè  nén hay viêm sưng  thì  sẽ làm đau gắt và nhói nơi lưng dưới, mông và chân (bệnh sciatia )
4-Bệnh loãng xương cũng có thể gây đau cột sống
Khi tuổi cao lượng calcium trong xương giảm và  mật độ xương giảm theo làm cho xương trở nên sốp và dòn hơn. Đó là bệnh loãng xương.
Nhưng tại sao bênh loãng xương lại liên quan tới đau cột sống lưng? Vì nếu bạn bị loãng xương thì khi hoạt động hàng ngày cũng có thể làm xương của bạn dễ bị vỡ, gãy..làm đau cột sống lưng
5- Đau cột sống do viêm, lao cột sống
Cũng còn có những nguyên nhân khác gây cột sống bị đau như bệnh vẹo cột sống  (scoliotis), bệnh ung thư cột sống, bệnh nhiễm khuẩn cột sống. hội chứng đuôi ngựa, bệnh lao cột sống,…
Nếu bạn bị đau cột sống lưng nhiểu thì nên đi bác sĩ khám để định bệnh và chữa trị Bác sĩ thường ra sẽ khám lưng và đánh giá khả năng ngồi, đứng, đi và nhấc chân của bạn.
Sau đó bác sĩ sẽ dùng búa cao su để trắc nghiệm phản ứng của  bạn nhằm xác đinh xem chứng đau cột sống lưng từ đâu ra hay bạn có bị chứng co thắt hay không… Nhờ vậy bác sĩ sẽ có thể loại bỏ đươc những nguyên nhân đau lưng nghiêm trọng hơn.
Đau cột sống có thể gây ra nhiều biến chứng như đau thắt lưng, gù lưng, vẹo cột sống.. làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy khi có triệu chứng đau cột sống bạn không nên xem nhẹ mà cần phải tìm ra nguyên nhân để có cách điều trị dứt điểm

Triệu Chứng của bệnh đau cột sống, thoái hóa cột sống

Triệu chứng chính của bệnh thoái hoá cột sống là đau nhói và/hoặc đau mãn tính, suy nhược, hạn chế vận động và mất cảm giác. Nếu thoái hoá cột sống dẫn tới đè, nén hoặc chấn thương tuỷ sống thì tình trạng suy nhược và hạn chế vận động sẽ nghiêm trọng hơn đáng kể. Chức năng của bàng quang, đường ruột và tình dục cũng bị giảm đi đáng kể. Các triệu chứng cụ thể phụ thuộc vào vị trí cột sống bị tổn thương.

Hướng điều trị

Điều trị thoái hoá cột sống phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh. Trong hầu hết các trường hợp, không cần thiết phải phẫu thuật. Biện pháp đầu tiên là nằm nghỉ ngơi và uống thuốc giảm đau. Người bệnh cần tập vật lý trị liệu để tăng cường cơ bắp ở lưng và cải thiện tính linh hoạt, vận động.
                                               Vật lý trị liệu giúp điều trị bệnh đau cột sống
Phẫu thuật là biện pháp cuối cùng đối với những người đau nặng. Phẫu thuật được chỉ định cho những bệnh nhân đau mãn tính nặng, tổn thương dây thần kinh và mất kiểm soát đối với bàng quang và ruột. Thủ thuật phẫu thuật được sử dụng khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ nghiêm trọng. Nếu thoái hoá cột sống do thoát vị đĩa đệm, có thể được phẫu thuật để khôi phục lại cấu trúc bình thường. Ở những bệnh nhân hẹp tuỷ sống, phẫu thuật giúp giảm áp lực lên cột sống tạm thời.
Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013
Thuốc chữa thoái hóa cột sống cổ

Thuốc chữa thoái hóa cột sống cổ

Thoái hoá cột sống cổ là một bệnh thường gặp ở người trung, cao tuổi. Tổn thương thoái hoá của sụn khớp gây ra do quá trình sinh tổng hợp chất cơ bản (proteglycan) bởi các tế bào sụn có sự bất thường. Đặc trưng của bệnh là quá trình mất sụn khớp của lớp tế bào dưới sụn; tổ chức xương cạnh khớp được tạo mới. Ở thoái hoá cột sống, có sự kết hợp giữa hai loại tổn thương mang tính định khu đó là thoái hoá đĩa đệm và thoái hoá mỏm liên sau.


Bệnh thường kèm theo các hội chứng ép rễ tại vùng cột sống, do tuỷ sống nằm trong ống sống quá hẹp. Nguyên nhân hẹp ống sống thường gặp nhất là do thoái hóa cột sống, với các gai xương làm cho khẩu kính của ống sống giảm đi. Thoát vị đĩa đệm làm tăng thêm bệnh cảnh lâm sàng của thoái hoá cột sống.

Trên lâm sàng các hội chứng thường phong phú, trong đó bao gồm hội chứng rễ chiếm tỉ lệ cao nhất khoảng 72%, sau đó đến hội chứng thiểu năng tuần hoàn sống - nền, hội chứng cột sống cổ đơn thuần (đau tại cột sống cổ, kiểu cơ học kéo dài), ngoài ra, có thể gặp triệu chứng đau ngực:

- Triệu chứng đau rễ thần kinh cổ cánh tay: Gặp trên 70% bệnh nhân thoái hoá cột sống cổ có thoát vị đĩa đệm, tổn thương chủ yếu ở các đốt từ C5 đến C7, đau thường xuyên xuất hiện từ từ, lan dần từ cổ xuống vai, cánh tay, cẳng tay, ngón tay, tê bì các ngón 4,5. Đsu 1 bên, ở một vị trí cố định, ngoài ra bệnh nhân còn có cảm giác đau ngoài da vùng thoát vị đĩa đệm, biểu hiện rối loạn vận mạch, rối loạn dinh dưỡng như toát mồ hôi, nôn nao, chóng mặt, teo cơ các vùng chi bị chi phối bởi các nhánh thần kinh ở vị trí tổn thương của cột sống như teo cơ ô mô cái, rối loạn phản xạ cơ tam đầu, gân cơ nhị đầu…

- Nhức đầu chủ yếu vùng chẩm, lan ra thái dương, trán, hố sau mắt, đau tăng khi có thay đổi tư thế, không có dấu hiệu tổn thương thần kinh

- Hội chứng rối loạn thần kinh giao cảm cổ: Nhức đầu, hoa mắt chóng mặt ù tai, mờ mắt, loạn cảm họng, nuốt vướng.

- Đau ngực, đau vùng bả vai lan ra ngực trái, có thêr lan xuống cánh tay, đau tương tự như cơn đau do co thắt mạch vành tim nhưng các xét nghiệm về điệntâm đồ hoàn toàn bình thường

- Nếu có dấu hiệu chèn ép tuỷ cổ: Bệnh nhân thường thấy có dấu hiệu liệt nửa người hoặc tứ chi tăng dần. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào hinh ảnh chụp cắt lớp vi tính hoặc MRI

Lưu ý: Hình ảnh Xquang không thể nhìn thấy được các hình ảnh tổn thương do chèn ép tuỷ, chỉ có thể nhìn thấy hình ảnh hẹp các khe khớp, hẹp lỗ liên hợp các ống sống, hình ảnh chồi xương, mọc thêm xương. Bệnh có thể chủ yếu điều trị nộị khoa tức là dùng thuốc kết hợp với các phương pháp không dung thuốc khác, cũng như cần được khám, chẩn đoán loại trừ các trường hợp phải can thiệp ngoại khoa.

Các thuốc điều trị thoái hoá cột sống cổ:

1/ Thuốc điều trị tác dụng nhanh:
- Thường dùng các thuốc chống viêm không steroid như Voltaren, Felden, Diclophenac…trong đó cácthuốc có thời gian bán huỷ nhanh thường tốt hơn loại chậm, liều dùng cần giảm liều ở người già và thận trọng với những người suy gan, tim, thận,. Nếu dùng kéo dài thì phải phát hiện các tác dụng phụ bằng cách cứ 6 đến 8 tháng phải làm xét nghiệm công thức máu, chức năng thận, man gan. Đối với người có bệnh lý dạ dày tá tràng, thuốc có thể gây xuất huyết tiêu hoá,có thể hạn chế bằng các đồng đẳng của Prostaglandin E1(Cytotex)

- Các thuốc giảm đau: Đóng vai trò quan trọng trong điều trị thoái hoá khớp nói chung, nhóm này ít độc với dạ dày và thận hơn là nhóm thuốc chống viêm không steroid, cách dùng thuốc giảm đau cũng tuân theo sơ đồ bậc thang của OMS (thăm dò để tìm ra liều tối thiểu mà có tác dụng điều trị trên bệnh nhân), thuốc thường dùng là Paracetamol.

2/ Thuốc chống thoái khớp tác dụng chậm: Đây là một nhóm thuốc điều trị mới, được đặc trưng bởi hiệu quả đối với triệu chứng xuất hiện muộn (trung bình khoảng 2 tháng), tuỳ từng laọi thuốc cụ thể mà có tác dụng chủ yếu là kích thích tế bào sụn khớp sản xuất ra proteoglycan có cấu trúc bình thường hoặc có tác dụng giảm huỷ sụn khớp, hoặc có tác dụng bôi trơn và bao phủ sụn khớp, ngăn cản sự mất proteoglycan bởi các khuôn sụn… Hiệu quả này được duy trì cả sau khi ngừng điều trị(sau 2 đến 3 tháng). Tuy nhiên, thường thuốc phải được dùng kéo dài từ 1 đến 2 tháng hoặc hơn nữa trong một liều trình, thuốc thường được dung nạp tốt, ít tác dụng phụ, gồm một số các thuốc như sau: Glucosamin sulphat; Chondroitine suphat, Acide Hyaluronic…
 
Copyright © 2014 All Right Reserved
Designed by