Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012
Chữa thoát vị đĩa đệm bằng laser xuyên qua da

Chữa thoát vị đĩa đệm bằng laser xuyên qua da

Khi thoát vị đĩa đệm chuyển sang giai đoạn nặng hơn, phương pháp điều trị vật lý không còn hiệu quả nữa, nhiều bệnh nhân lại không muốn điều trị bằng phương pháp mổ hở hoặc nội soi vì sợ biến chứng và để lại sẹo. Vì vậy phương pháp giảm áp lực đĩa đệm bằng laser xuyên qua da là phương pháp được lựa chọn cho các vấn đề này.

Phương pháp giảm áp lực đĩa đệm bằng laser xuyên qua da

Phương pháp giảm áp lực đĩa đệm bằng laser xuyên qua da( viết tắt là PLDD ) là một thủ thuật có thể thích hợp với nhiều bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm, ngay cả đối với những người lớn tuổi và có vấn đề về sức khỏe. Đặc biệt, với những phụ nữ ngại đau đớn và sợ ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ với đường rạch khi phẫu thuật vùng cột sống thì PLDD cũng là một lựa chọn tốt.

Năng lượng laser được đưa vào nhân nhầy của đĩa đệm nhờ hệ thống quang dẫn mềm và dưới sự quan sát thông qua một X-quang tăng sáng truyền hình ba chiều. Năng lượng laser sẽ làm bốc bay một phần nhân nhầy, giúp giảm áp suất nội đĩa đệm. Từ đó, khối nhân nhầy thoát vị co rút lại, giúp giảm áp suất chèn ép lên rễ thần kinh ở vị trí thoát vị.

Thông thường, việc điều trị với một tầng (1 đĩa đệm) chỉ mất khoảng 15 phút. PLDD còn giúp tránh được gây mê và một số biến chứng nặng trong mổ hở, sẹo của vết mổ cũng có thể gây xơ dính thần kinh, một rủi ro có thể gặp phải sau mổ hở.
Nhược điểm

Trong trường hợp bệnh nhân có khối thoát vị quá lớn, các vòng xơ của đĩa đệm bị đứt nhiều, đĩa đệm đã bị vỡ, phì đại dây chằng vàng, đứt dây chằng dọc sau, dọc trước, trượt thân đốt sống trên độ 1, thoái hóa cột sống nặng, xẹp đĩa đệm trên 50% thì điều trị giảm áp bằng laser qua da không còn là phương pháp hiệu quả.

Nhiều người bệnh e ngại laser và tia X từ máy chiếu X-quang khi làm PLDD gây hại cho cơ thể. Nếu laser được sử dụng đúng cách và có bảo hiểm tốt cho đôi mắt thì được coi là vô hại.
Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012
Nguyên nhân bệnh nhân đái tháo đường tăng?

Nguyên nhân bệnh nhân đái tháo đường tăng?

Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ gia tăng đái tháo đường cao trên thế giới. Sau 10 năm, tỉ lệ mắc bệnh này tại Việt Nam đã tăng gấp đôi và có rất nhiều yếu tố tác động đến tỉ lệ này.


Tại Hội thảo quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường diễn ra chiều 23/5, tại Hà Nội, Giáo sư Thái Hồng Quang, Phó Chủ tịch Hội Nội tiết Việt Nam cho biết: kết quả điều tra mới nhất do Bệnh viện Nội tiết Trung ương công bố cho thấy, số bệnh nhân mắc đái tháo đường tại Việt Nam đang tăng vọt.

Kết quả nghiên cứu với hơn 11.000 người tuổi 30- 69 tại 6 vùng sinh thái gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho thấy, khoảng gần 6% dân số Việt Nam bị tiểu đường, Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7% năm 2002 lên gần 13% năm 2012.

Theo GS Quang, có nhiều yếu tố tác động dẫn đến gia tăng nhanh tỉ lệ bệnh nhân mắc đái tháo đường. “Trước đây vấn đề sàng lọc, tầm soát bệnh đái tháo đường chưa được quan tâm. Giờ chúng ta quan tâm hơn đến vấn đề này và hệ thống y tế trong toàn quốc, tuyên truyền trên truyền thông nên người dân đã chủ động đi khám nhiều hơn. Hơn nữa, hiện nay, ngưỡng để chẩn đoán bệnh đái tháo đường thế giới hạ thấp xuống rất nhiều. Trước kia, đường máu bình thường là dưới 7,8mmol, nhưng hiện nay, đường máu bình thường là 5,6 và chẩn đoán bệnh đái tháo đường là 7mmol chứ không phải là 7,8. Tức là ngưỡng chẩn đoán giảm đi. Khi ngưỡng giảm như vậy, số ca chẩn đoán sẽ tăng lên”, GS Quang nói.

Bên cạnh đó, xu hướng hiện đại hóa, rất nhiều người dân các vùng nông thôn ra thành phố, các nhà máy làm việc, họ phải sống một cuộc sống công nghiệp hóa, ăn thức ăn nhanh, trong đó có nhiều yếu tố béo, rất dễ gây nên đái tháo đường.

“Béo phì liên quan mật thiết với đái tháo đường. Trong khi đó, hiện nay, lối sống thay đổi, vận động ít đi (trước đây ta đi bộ, đi xe đạp là những phương tiện phải vận động, giờ đi xe máy, đi ô tô làm vận động của con người cũng giảm đi), ngồi xem ti vi nhiều, ăn thức ăn nhiều chất béo… là tác nhân gây gia tăng bệnh đái tháo đường”, GS Quan nhận định.

Trước đây, béo thì liên quan đến đái tháo đường tuýp 2, thường gặp ở người trên 40 tuổi, người già. Bây giờ trẻ em đã có nhiều trẻ bị tiểu đường tuýp 2 vì béo phì.

GS Quang đánh giá, tỷ lệ bệnh nhân tiểu đường đã ở mức báo động. Bởi năm 2002, tỷ lệ bệnh nhân tiểu đường chỉ chiếm khoảng 2,7% dân số. Đến nay, sau đúng 10 năm, tỷ lệ bệnh nhân mắc tiểu đường đã tăng gấp đôi. Trong khi đó, theo xu hướng chung, tỉ lệ này cần phải mất 15 năm mới tăng lên gấp đôi.

Đáng nói, số người mắc tiểu đường có xu hướng tăng nhanh nhưng số người phát hiện bệnh lại rất thấp. Theo kết quả nghiên cứu này, tỷ lệ người bệnh tiểu đường trong cộng đồng không được phát hiện ở nước ta là gần 64%. Kiến thức chung về bệnh của người dân cũng rất thiếu. Gần 76% số người được hỏi có kiến thức rất thấp về chẩn đoán và biến chứng của bệnh, chỉ có 0,5% có kiến thức tốt.

Trước thực trạng đó, Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã triển khai Chiến lược quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường giai đoạn 2013-2020. Trong đó từ nay đến 2016 tăng cường phát hiện sớm, quản lý các đối tượng nguy cơ cao, xây dựng các biện pháp can thiệp kịp thời làm giảm số người mắc bệnh.
Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012
Các phương pháp điều trị bệnh đau lưng

Các phương pháp điều trị bệnh đau lưng

Bệnh đau lưng do nhiều nguyên nhân gây ra, vì vậy cần phải tìm hiểu kĩ đâu là nguyên nhân gây bệnh mới có biện pháp điều trị phù hợp. Trừ các trường hợp đau lưng đặc biệt bạn có thể áp dụng một số biện pháp sau đây để  điều trị bệnh đau lưng.


Các biện pháp điều trị

Phương pháp vật lý trị liệu : rất có hiệu quả trong chứng đau lưng, chẳng hạn như xoa bóp, nắn khớp, chiếu tia hồng ngoại, châm tê tại chỗ, chườm nóng (ngải cứu + muối) … Việc áp dụng các phương pháp trên cần có sự hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa. Ngoài ra, có thể giảm đau lưng bằng cách dùng áo nịt và đai lưng.

Có thể giảm đau bằng cách làm cho người nóng lên: Dùng các loại dầu hay thuốc dạng kem bôi ngoài da. Khi cần, có thể sử dụng  các  dạng thuốc giảm đau kháng viêm hoặc thuốc chống co cơ với sự hướng dẫn của bác sĩ.

Phẫu thuật đĩa đệm: là phương pháp chữa bệnh triệt để và cuối cùng, được áp dụng khi các phương pháp trên không hiệu quả.

Đau lưng do lao, do nhiễm trùng đường tiết niệu, đường mật: Cần phải chữa nguyên nhân. Đau lưng thường, kể cả đau lưng ở phụ nữ có thai có thể chữa bằng cách sửa lại thói quen đứng, ngồi thẳng lưng hoặc nằm trên phản, giường cứng, không nằm đệm hoặc võng, thường xuyên tập luyện hoặc dùng châm cứu, bấm huyệt.

Đau lưng do giãn dây chằng hoặc nghi trượt đĩa đệm : Để người bệnh nằm ngửa, bất động trong vài ngày, nên kê đệm ở chỗ khoeo chân và lưng, nên dùng các thuốc giảm đau uống kèm theo đắp khăn nóng.

Người bị đau thắt lưng : Nên nằm ngửa, người hơi ưỡn, hai gối co. Khi bị đau đột ngột, dữ dội, nên nghỉ ngơi tuyệt đối. Nếu đau mạn tính, dai dẳng, nên hạn chế làm việc nặng, nghỉ ngơi nhiều hơn. Không nên hoạt động sớm khi cơn đau mới thuyên giảm.
Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012
Biến chứng, gánh nặng của bệnh đái tháo đường

Biến chứng, gánh nặng của bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường là một nhóm bệnh lý chuyển hoá với đặc trưng tăng glucose máu mạn tính, là nguyên nhân gây ra các biến chứng tại các cơ quan trong cơ thể ở mức độ khác nhau như tổn thương phá huỷ hoặc suy yếu các mô, rối loạn chức năng các cơ quan đặc biệt như tim mạch, mắt, thận, thần kinh,...


Đái tháo đường là một trong ba bệnh (ung thư, tim mạch, đái tháo đường) phát triển nhanh nhất. Theo công bố của WHO 1985 có 30 triệu người trên thế giới bị đái tháo đường, thì năm 1994 là 98,9 triệu người. Theo ước tính của Viện nghiên cứu đái tháo đường quốc tế năm 2010 có khoảng 215,6 triệu người bị đái tháo đường. Ở Việt Nam theo điều tra dịch tễ học bệnh đái tháo đường của PGS.TS Tạ Văn Bình bệnh viện Nội tiết năm 2001 tại 4 thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh) ở tuổi 30-64 cho thấy tỷ lệ đái tháo đường là 4,0%.

Gánh nặng về y tế và xã hội do bệnh ĐTĐ gây ra cho cộng đồng là một vấn đề rất được quan tâm. Mặc dù ở nước ta chưa có các thống kê đầy đủ, song theo thống kê của Bộ Y tế Mỹ năm 2000, có trên 3,2 triệu người nhập viện liên quan tới bệnh ĐTĐ. Lý do chính khiến các bệnh nhân ĐTĐ phải nhập viện điều trị đứng hàng đầu là do các bệnh lý của hệ tim mạch (40% các nhập viện), sau đó là bệnh lý hệ hô hấp và nhiễm khuẩn (30%).

ĐTĐ cũng là một bệnh lý mạn tính hàng đầu có các biến chứng nguy hiểm cho người bị bệnh: nguyên nhân chính dẫn tới mù và suy thận giai đoạn cuối cần phải được lọc máu hay ghép thận; là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây cắt cụt chi do tắc mạch; trên 70% bệnh nhân người lớn bị ĐTĐ có tăng huyết áp và tỷ lệ bị bệnh tim, tai biến mạch não ở người ĐTĐ được ước tính cao gấp 4 - 6 lần so với người cùng độ tuổi song không bị bệnh, 70% tử vong ở BN ĐTĐ liên quan tới biến chứng tim mạch. Theo thống kê của WHO số BN tử vong do ĐTĐ tương đương với số BN tử vong do bệnh AIDS.

Chính vì vậy Bệnh đái tháo đường đang được cả thế giới nhìn nhận như là một đại dịch của thế kỷ 21 do phạm vi ảnh hưởng mang tính toàn cầu và mức độ ảnh hưởng sâu sắc của nó đối với sức khoẻ, kinh tế và an ninh xã hội.
Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012
Chế độ ăn uống sinh hoạt cho người bị bệnh viêm khớp

Chế độ ăn uống sinh hoạt cho người bị bệnh viêm khớp

1. Chế độ ăn uống 
- Ăn nhiều các thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, khẩu phần ăn luôn đảm bảo đủ thịt, cá, trứng, sữa. Không nên kiêng khem quá mức (chỉ kiêng những thực phẩm do bác sĩ chỉ định).

>> THUỐC CHỮA BỆNH VIÊM KHỚP HIỆU QUẢ
>> ĐỊA CHỈ CHỮA BỆNH XƯƠNG KHỚP TỐT VÀ HIỆU QUẢ NHẤT
>> CÁCH CHỮA BỆNH ĐAU KHỚP GỐI ĐÚNG CÁCH



- Dùng nhiều các thực phẩm giàu axit béo omega-3, chất này có tác dụng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm giảm các triệu trứng đau khớp, loại bỏ tình trạng cứng khớp vào buổi sáng. Thực phẩm chứa nhiều axit béo omega-3 là cá, đặc biệt là mỡ cá, các loại cá thu, cá ngừ, cá hồi, cá trích, tôm, cua, dầu cá, dầu đậu nành, dầu hạnh nhân, dầu ô lưu.

- Ăn nhiều các thực phẩm giàu vitamin C, D, E và beta-caroten (tiền vitamin A). Nhờ tác dụng chống oxy hóa nên các vitamin này có thể phòng tránh được một số dạng viêm khớp. Vitamin C và D có tác dụng làm giảm đau – viêm xương khớp, làm chậm sự tiến triển của bệnh. Vitamin E và beta-caroten có tác dụng giảm đau, chống viêm. Các loại vitamin này có nhiều trong rau, củ, quả như ổi, dâu tây, cà chua, cà rốt, bí đỏ, các loại rau xanh và đậu tương, giá đỗ, vừng lạc, mầm lúa mạch …

- Uống đủ nước , mỗi ngày nên uống từ 2.0-2.5  lít nước.

- Các thức ăn nên tránh:

+ Người bị bệnh khớp không nên ăn bắp (ngô), đồ nếp đã qua chế biến vì trong thực phẩm này có nhóm hoạt chất dễ gây nên tình trạng dị ứng dưới dạng viêm khớp.

+ Tất cả những món ăn làm tăng chất mỡ trong máu đều bất lợi cho người đang bị viêm khớp vì xúc tác phản ứng viêm tấy ở mặt trong bao khớp. Do đó không chỉ mỡ, bơ, xúc xích, dăm bông, mà ngay cả bánh kẹo cũng không nên có trong khẩu phần ăn.

+ Người bị đau nhức: kiêng thịt gà, thịt bò, thịt chó, măng, cà pháo, cà chua, khoai tây, chuối tiêu, gia vị cay nóng.

Người bị ngứa ở các khớp: kiêng cá, tôm, cua, nhộng, lươn, chạch.

- Tránh hoặc hạn chế các chất kích thích làm tăng tiến triển của bệnh, làm bệnh khớp biến triển xấu đi như rượi, bia, thuốc lá, café.

2. Chế độ sinh hoạt

-  Trong thời gian bị bệnh, mỗi ngày cần tập thể dục, hoạt động khớp xương nhẹ nhàng nhất là vào buổi sáng để giúp các khớp xương hoạt động trơn tru, giảm bớt co cứng cơ, tránh hiện tượng dính khớp. Xoa bóp vùng bị tổn thương giúp cho phục hồi nhanh hơn. Có thể áp dụng các bài tập thể dục trị liệu hay tập bơi, chơi cầu lông, bóng bàn hoặc có thể đi bộ nhẹ nhàng vào buổi sáng, tối. Thậm chí sau khi các triệu chứng bệnh đã khỏi thì vẫn phải kiên trì vận động trong thời gian dài để duy trì các khớp xương ở trạng thái chức năng bình thường. Tránh mang vác nặng, ngồi lâu không thay đổi tư thế làm ảnh hưởng đến cột sống.

-Khi ngồi hay nằm phải đúng tư thế, không nằm co quắp, tránh hiện tượng để các khớp ở trạng thái hoàn toàn không hoạt động trong thời gian dài, gây hậu quả teo cơ bắp co rút xương khớp, gây tàn phế.

- Cần có chế làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Không nên làm việc quá sức gây quá sức chịu đựng của các khớp, gây biến dạng khớp.

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012
Phân loại đái tháo đường

Phân loại đái tháo đường

Hiện nay dựa vào cơ chế sinh bệnh Bệnh đái tháo đường được phân thành 2 nhóm chính:
Đái tháo đường typ1, thường gặp độ tuổi dưới 35, khởi phát cấp tính với các triệu chứng lâm sàng rầm rộ: đái nhiều, uống nhiều, sút cân nhiều, thể trạng gày. Nếu không được phát hiện điều trị kịp thời có thể gặp biến chứng nhiễm toan ceton.

Đái tháo đường type 2, thường gặp ở người lớn trên 35 tuổi, tiến triển chậm, triệu chứng lâm sàng không rõ ràng, ít rầm rộ. Đường huyết thường tăng cao nhiều năm trước khi được chẩn đoán. Có khi bệnh được phát hiện tình cờ qua xét nghiệm máu hoặc do có biến chứng cấp hoặc biến chứng mạn tính như suy thận, bệnh võng mạc, bệnh thần kinh ngoại vi, liệt dương. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy có thể phòng bệnh ĐTĐ typ2 bằng việc thay đổi lối sống, tăng cường vận động tập thể dục và thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý.
Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng khi nào nên mổ

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng khi nào nên mổ

Thông tin trên các phương tiện truyền thông về những trường hợp gặp rủi ro liệt người do mổ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, đã khiến nhiều bệnh nhân hoang mang. Đây là bệnh rất thường gặp và đáng quan tâm bởi không chỉ ảnh hưởng lên cá nhân người bệnh mà còn đến kinh tế gia đình và xã hội. Tuy nhiên, do bệnh nhân thiếu thông tin, do một số bác sĩ chưa có kinh nghiệm, nhận diện không đúng bệnh lý, lạm dụng thái quá các máy móc kỹ thuật chẩn đoán… mà đã có nhiều trường hợp tiền mất tật mang.


Không cứ “thoát” là mổ

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng mức độ nhẹ hầu hết được điều trị bằng phương pháp bảo tồn (dùng thuốc, nghỉ ngơi, tập vật lý trị liệu…) là bệnh nhân sẽ dần bình phục. Chỉ với những trường hợp bệnh nặng, điều trị bảo tồn thất bại mới cần xem xét khả năng điều trị bằng phẫu thuật. Phẫu thuật là phương pháp mà mọi bệnh nhân đều muốn tránh vì lo sợ biến chứng. Cũng chẳng ai muốn động dao động kéo và chịu một vết sẹo trên vùng cột sống, thắt lưng. Nhưng nếu so sánh các nguy cơ với lợi ích, một ca vi phẫu hay nội soi kéo dài không hơn 60 phút vẫn là lựa chọn tốt nhất trong điều trị thoát vị đĩa đệm nặng. Trong các trường hợp khối u chèn ép rễ thần kinh và tuỷ sống thì phẫu thuật loại bỏ chúng là phương pháp duy nhất cần thiết và hiệu quả (nhưng cũng tuỳ thuộc khối u lành tính hay ác tính mà các bác sĩ sẽ đưa ra quyết định mổ hay không?).

Không phải bất cứ thoát vị đĩa đệm nào tại vùng thắt lưng đều bắt buộc điều trị mổ. Nếu bác sĩ chỉ định đúng, thường mang lại kết quả cao và thoả mãn được mong đợi của người bệnh. Ngược lại, sẽ dẫn đến hiệu quả điều trị thấp, nhiều biến chứng, liệt người, thậm chí tử vong, chính vì điều này mà một số bệnh nhân càng thêm sợ động dao kéo. Hiện có hai phương pháp được coi là chính thống trong điều trị thoát vị đĩa đệm được thực hiện hàng ngày tại nhiều bệnh viện lớn, là mổ vi phẫu và mổ nội soi. Hai phương pháp này là phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, phổ biến nhất trên thế giới hiện nay.

Thực tế không phải bệnh nhân nào cũng có thể được bác sĩ chỉ định mổ. Khi gặp bệnh nhân quá yếu, tuổi cao, có bệnh toàn thân như tim mạch, tiểu đường nặng, hoặc thoái hoá cột sống quá nặng thì không thể điều trị bằng phẫu thuật được vì rất dễ gặp biến chứng khi gây mê và trong quá trình mổ.

Nhưng có lúc chỉ mổ mới thoát

Điều này còn tuỳ thuộc chỉ định của bác sĩ là đúng hay không. Hiện nay, loại thoát vị đĩa đệm mà việc chỉ định mổ đem lại kết quả cao nhất là thoát vị lồi rất lớn chèn ép trực tiếp rễ thần kinh, hoặc vỡ vào lỗ thần kinh, đôi khi khối thoát vị chui vào trong ống sống chèn ép chùm đuôi ngựa ảnh hưởng nhiều đến cảm giác và vận động. Đối với những trường hợp này, khả năng hồi phục chức năng của thần kinh và cột sống đến 80 – 90%. Những thoát vị nhẹ hoặc chưa chèn ép rễ thần kinh hoặc chèn ép không nhiều, nếu đặt chỉ định phẫu thuật giai đoạn này thì hiệu quả hầu như không đáng kể. Chỉ định mổ bao giờ cũng phải dựa vào hai tiêu chuẩn chính là triệu chứng lâm sàng và kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) cột sống ngực và thắt lưng.

Đôi lúc, chính người thầy thuốc cũng rất phân vân giữa chỉ định mổ hay điều trị bằng thuốc và vật lý trị liệu. Như khối thoát vị còn nhỏ, chưa gây đau đớn nhiều nên chưa đáng để phẫu thuật, hoặc khối thoát vị lớn trên MRI nhưng không ảnh hưởng nhiều trên lâm sàng, thì có nên mổ hay không? Những trường hợp này cần đến sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa để chọn lựa biện pháp tối ưu. Thật ra, điều trị nội khoa không thể làm khối thoát vị biến mất hay đưa đĩa đệm trở lại vị trí cũ. Cái ranh giới mong manh này nhiều khi làm bệnh nhân có tâm lý đang phải chờ khối thoát vị lồi nhiều hơn để mổ một lần cho có kết quả tốt, nên tư vấn của bác sĩ chuyên khoa là vô cùng cần thiết.
Copyright © 2014 All Right Reserved
Designed by